|
LỜI NÓI ĐẦU
Đời người thật là kì
diệu và mầu nhiệm vô cùng. Nếu chúng ta thật sự tĩnh tâm và bình
thản, chúng ta sẽ khám phá và nhận thấy cuộc đời này có biết bao
nhiêu điều hay, biết bao nhiêu điều mầu nhiệm đã đến với chúng ta.
Trong một lúc linh thiêng nơi Thánh địa nào đó, chỉ cần ta có một tâm
niệm lành cho mình, cho chúng sanh, thì một thời gian sau, những điều
tốt sẽ đến một cách bất ngờ trong sự mầu nhiệm mà chúng ta không
thể ngờ được. Như khi tôi đến chiêm bái Thánh địa Lumbini (Lâm Tỳ
Ni), nơi Phật giáng trần, tận mắt thấy Thánh địa điêu tàn, không cầm
được nước mắt, tôi bèn tụng kinh trì chú, niệm Phật và cầu nguyện
với mơ ước được thấy Lumbini phát triển. Thời gian cứ lặng lẽ trôi
qua, gần 30 năm sau, tôi lại là người ngoại quốc đầu tiên được mời
đến cấp đất để xây dựng ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật giáng
trần, đó là Việt Nam Phật Quốc Tự Lumbini.
Sự hiện diện của
Việt Nam Phật Quốc Tự đã kéo theo sự xây cất các chùa tháp, cơ quan
văn hoá xã hội của trên 22 tổ chức Phật giáo các nước trên thế
giới, tạo thành một thành phố hoà bình của tôn giáo tại vườn Lumbini.
Thật là mầu nhiệm, mầu nhiệm.
Năm đầu tiên tôi
không thấy có chim Hồng Hạc, năm thứ hai tôi may mắn và vui mừng bất
chợt thấy được hai con xuất hiện gần "toà lâu đài" bằng tre lá của
mình tại khuôn viên Việt Nam Phật Quốc Tự. Tôi cùng bạn bè, đệ tử
ra sức bảo vệ, nay số lượng Hồng Hạc tăng, chúng tôi đếm được 66 con
quanh vùng Lumbini.
Thật là tuyệt vời
kỳ diệu, nhờ đi đếm chim Hồng Hạc, tôi tận mắt thấy cảnh khổ của
dân làng khi vượt qua dòng sông oan nghiệt, tôi cầu nguyện và mơ ước
… Thế là làm được cây cầu … rồi mọi người thi nhau làm việc thiện.
Còn những điều hay và mầu nhiệm khác trong cuộc đời này, tôi mong có
dịp kể để cùng quí vị chia sẻ.
Khi tôi đến Nepal,
đất nước tươi đẹp hùng vĩ này, mọi người sống trong an lạc hoà bình,
bất chợt không may chiến tranh xảy ra làm trên 14.000 người chết,
hàng trăm ngàn người mất nhà mất cửa, nhiều tỷ Dollar tài sản tiêu
tan vì chiến tranh, dân thường mỗi ngày mỗi nghèo mỗi đau khổ hơn …
Nhiều lần nhiều học trò đệ tử yêu cầu tôi rời khỏi xứ này để
được an lành hạnh phúc. Nhưng tôi nghĩ rằng khi mình đến Nepal thì xứ
này có hoà bình, nay chẳng may có chiến tranh xảy ra, mình nỡ lòng nào
bỏ đi? Tôi đã quyết định bằng mọi cách ở lại để tụng kinh, trì chú
cầu nguyện và đóng góp được gì cho hoà binh trở lại xứ này thì tôi
sẽ sẳn sàng làm.
Đất nước này đã có
nhiều vị Phật và Thánh nhân sinh ra và người dân Nepal nổi tiếng
trên thế giới là dân tộc yêu chuộng hoà bình, dân tộc sống mạnh về
tâm linh. Do vậy, mặc dù tình hình rất xấu, nhưng tôi vẫn tin tưởng là
sự mầu nhiệm sẽ đến với dân tộc và đất nước này, đó là hoà bình
thật sự trở lại trên đất nước Nepal.
Xin tất cả chư vị
cùng tôi cầu nguyện và cùng chân thành làm việc để sớm có hoà
bình thật sự trên đất nước Nepal. Thành kính tri ân chư liệt quí vị.
Thầy trò chúng tôi mong mỏi sớm được gặp và đón tiếp quí vị nơi Lâm
Tỳ Ni, xin kính mời quí vị dừng chân thăm viếng và trú ngụ tại Việt
Nam Phật Quốc Tự, ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật Thích Ca giáng
trần.
Kính
Huyền Diệu
NEPAL - HOÀ BÌNH
TRONG TẦM TAY
I. Nepal, Đất Nước
Tươi Đẹp Hùng Vĩ Thu Hút Khách Năm Châu
Trong thế giới ngày
nay, Nepal có thể là một nước khá nhỏ, lại nằm giữa hai nước lớn:
Trung Quốc và Ấn Độ. Thế nhưng xứ sở nhỏ bé này có sức thu hút lạ
kỳ, hàng triệu con người trên khắp năm châu tìm đến xứ này để
chiêm bái và viếng thăm.
Cách đây 40 năm tôi
đã chiêm bái vườn thiêng Lumbini và viếng thăm Nepal, và không ngờ
sau cuộc chiêm bái và viếng thăm lịch sử đó, tôi đã gắn bó với xứ
này phần lớn đời mình.
Nepal có thể tự hào
là xứ sở có nhiều cảnh thiên nhiên tuyệt vời, với rặng Himalaya
hùng vĩ, đỉnh cao của nó không đâu sánh nỗi là đỉnh Sagarmatha (Mẹ
của Vũ trụ)ï mà mọi người quen gọi là ngọn Everest -cao 8848m.
Nepal có thể tự hào
là quê hương của nhiều Đức Phật, của nhiều hiền giả. Đặc biệt là
Lumbini, nơi giáng trần của Đức Phật Thích Ca, người đã chứng đạo và
chỉ đường dẫn lối cho hàng trăm triệu con người sống trong hoà bình
hạnh phúc hai mươi sáu thế kỷ qua. Biết bao nhiêu thứ triết học các
nơi trên thế giới sanh ra và tự diệt trong vòng vài trăm năm hay ngắn
hơn, trong khi triết học Phật giáo vẫn còn là một nghệ thuật sống
tích cực đầy sức thuyết phục đối với nhân loại ngày nay.
Nepal có thể tự hào
là đất nước có nhiều tôn giáo khác nhau sống chung một cách hoà
thuận, chưa bao giờ xảy ra chiến tranh tôn giáo; là đất nước có một
dân tộc trên 70 ngôn ngữ và sắc dân khác nhau sống trong hoà hợp
nhiều trăm năm.
Nepal có thể tự hào
là một trong số ít nước nhỏ trên thế giới đã giữ trọn nền đôïc lập
của mình qua nhiều thế kỷ cho đến hiện tại. Chưa có một cường quốc
nào dù Á châu, Âu châu hay Mỹ châu đặt được ách thống trị lên quốc
gia đất không rộng người không đông này.
Nepal và người Nepal
có thể tự hào về truyền thống văn hoá và tập quán của dân tộc
mình vẫn giữ nguyên vẹn đến bây giờ trong khi ở nhiều nước trên thế
giới những truyền thống tốt đẹp đã bị mai một. Trong những năm tháng
dài sống và làm việc ở Nepal, tôi đã có dịp đi nhiều nơi tiếp xúc
nhiều người, tôi thấy phần lớn người dân Nepal có lối sống hoà bình
hướng nhiều về tâm linh. Trong gia đình vợ chồng rất tương kính, có nơi
người chồng tôn trọng người vợ như là nữ thần, người vợ tôn trọng
người chồng như là một vị thần, có sự hiếu thuận của con cái đối
với ông bà cha me. Trong cộng đồng làng xã có sự đoàn kết tương trợ
thân ái. Người dân Nepal còn có một vẻ đẹp đặc biệt, đó là tấm
lòng cởi mở thông cảm và sẳn sàng giúp đở người lạ, người dân tộc
khác từ nơi xa đến cư ngụ. Điều này bản thân tôi đã trải nghiệm
trong những năm tháng sống và làm việc ở xứ sở này, đặc biệt là ở
Lumbini nơi giáng trần của Đức Phật Thích Ca.
Tôi đến ở Nepal và
làm việc từ hơn mười năm nay, đi nhiều nơi từ bắc xuống nam, từ đông
qua tây, từ vùng núi cao Himalaya đến vùng đồng bằng Tarai, mà không
bao giờ bị cảnh sát hay bất cứ nhân viên an ninh nào hỏi giấy tờ.
Ngay cả những vùng xa xôi hẻo lánh mà người ta cho là mất an ninh, do
quân Maoist kiểm soát tôi đi vào nhiều lần nhưng cũng chưa bao giờ bị
hỏi giấy tờ hay gây khó khăn gì hết, mặc dù đất nước này đang trong
thời kỳ chiến tranh. Có lẽ đây cũng là một điều đặc biệt không
nước nào trên thế giới có được. Từ khi có chiến tranh tới nay, chưa
có khách du lịch nào bị giết chết.
II.
Tôi đã trở thành một người con của đất nước Nepal như thế nào
1/ Tâm nguyện
sâu xa được thấy Lumbini khôi phục và phát triển
Là người mang quốc
tịch ngoại quốc, tôi cảm thấy tự hào và hoan hỷ khi vào năm 1993
được nhà vua Birendra và chánh phủ vương quốc Nepal cùng LDT (Lumbini
Development Trust - Cơ quan Ủy thác Phát triển Lumbini) đích thân cấp đất
để xây dựng Việt Nam Phật Quốc Tự Lumbini, ngôi chùa quốc tế đầu
tiên nơi Phật giáng trần. Và hơn một thập niên qua, chúng tôi đã
đóng góp công sức phát triển Lumbini thành một trung tâm tôn giáo
tâm linh quốc tế, một thành phố hoà bình, góp phần nâng cao vị thế
của Nepal trong đời sống văn hoá thế giới. Như vậy tôi có thể tự coi
mình là một người thân của dân tộc và đất nước Nepal tươi đẹp đáng
yêu này.
Con đường đến Nepal
rồi trở thành người con của Nepal là cả một con đường dài.
Lúc nhỏ thường theo
mẹ đến chùa, tôi học hỏi nhiều điều và biết được Đức Phật Thích Ca
sanh ở vườn Lumbini. Lớn lên tôi được biết ngài Pháp Hiển, nhà chiêm
bái Trung Quốc đã vượt qua bao nhiêu khó khăn, đi bộ từ Trung Quốc
sang chiêm bái Lumbini và Kapilavastu vào thế kỷ thứ năm. Ngài có
viết trong hồi ký của ngài về những thánh tích này. Gần hai thế kỷ
sau đó, nhà chiêm bái học giả vĩ đại khác của Trung Quốc là Huyền
Trang cũng đi bộ từ Trung Quốc sang. Ngài đã viết khá rõ ràng về
Lumbini, vương thành Kapilavastu và các Phật tích khác trong quyển Đại
Đường Tây Vức Ký.
Tìm hiểu rõ hơn, tôi
lại biết trong bốn thánh địa Phật giáo hàng đầu thì ba thánh địa nằm
ở Ấn Độ còn thánh địa Lumbini nằm trong lãnh thổ Nepal.
Những hiểu biết trên
đã nuôi dưỡng trong tôi tâm nguyện, ước mơ, khao khát đêm ngày: trong
đời mình có một lần được chiêm bái quê hương của Phật Tổ và các vị
Phật khác.
Sau nhiều năm làm
việc để dành tiền và cầu nguyện, cuối cùng sau khi vượt qua nhiều
khó khăn tôi đã may mắn đến được vườn Lumbini vào ngày trăng tròn
mùa xuân 1969. Nơi mà cách đây hơn 2600 năm một con người Nepal vô
cùng vĩ đại đã sinh ra. Một vị hoàng tử quyền uy sống trong vàng son
gấm vóc vợ đẹp con ngoan nhưng đã từ bỏ tất cả để đi tìm con đường
giải thoát chúng sanh khỏi khổ đau bất tận. Chính con người độc nhất
vô nhị này đã chuyển hoá hàng trăm triệu người trên thế giới hướng
về con đường chân thiện mỹ, hướng về con đường hạnh phúc an lạc do
chính con người tạo ra, đặc biệt hơn nữa đó là con đường bất bạo
động, con đường từ bi hỷ xả, con đường khoan dung, con đường tha thứ,
dẫn dắt mọi người đến chổ hợp tác trong hoà bình thực sự.
Tôi đến đây lòng
tràn đầy sung sướng, không ngờ bao nhiêu năm tháng cầu nguyện, cuối
cùng mơ ước của mình đã thành sự thực. Nhưng cùng lúc khi tận mắt
nhìn thấy cảnh hoang tàn của thánh địa, tôi đã phải bàng hoàng bật
khóc. Tôi tự hỏi có phải đúng chỗ này là nơi Phật giáng trần hay
không? Trong khi bao nhiêu thánh tích của nhiều tôn giáo khác trên thế
giới được bảo vệ tô đắp thật đẹp, tại sao thánh địa Lumbini tàn tạ
như thế này… hay là tôi đã đi lạc đường, hoặc là người hướng dẫn đã
đưa tôi đến chỗ không đúng là vườn Lumbini? Nhiều câu hỏi nghi ngờ
cứ liên tục hiện ra trong đầu tôi, nhưng khi tới trụ đá vua Ashoka
dựng lên cách đây trên 23 thế kỷ, tôi đọc được năm dòng chữ ghi rõ
nơi này Đức Phật Thich Ca giáng trần, lúc đó tôi lấy lại niềm tin và
biết mình đã đến đúng chỗ Phật sanh. Trụ đá này đúng y như sự diễn
tả trong hồi ký của ngài Huyền Trang. Thầy Huyền Trang có ghi là dọc
theo trụ đá có lằn nứt, đến nay chúng ta vẫn còn thấy rõ lằn nứt
trên đá, nhưng đầu hình con ngựa trên trụ đá thì không còn. Tuy an tâm
nhưng nhiều câu hỏi về lý do điêu tàn của Lumbini vẫn tiếp tục trỗi
lên. Trong khi đi kinh hành xung quanh nơi Phật đản sanh tự nhiên tôi
nhớ đến lời dạy của thầy tôi. Thầy tôi dạy là khi nào đến được
những chổ linh địa như thế này, sau khi đảnh lễ hãy nhứt tâm tụng kinh
trì chú niệm Phật rồi cầu nguyện những điều chân chánh, những ước mơ
đẹp trong cuộc đời này thì sẽ được như ý. Thế là tôi đến trụ đá
của vua Ashoka, nhìn kỹ những dòng chữ ghi trên trụ đá, tôiù khấn
nguyện rồi ước mơ rất nhiều điều, trong đó có điều tôi lập đi lập
lại rất nhiều lần là mong mỏi thấy thánh địa Lumbini được bảo vệ và
phát triển trở lại trước khi tôi rời khỏi cõi đời này.
Sau khi học hành tạm
ổn, tôi trôi nổi làm việc ở nhiều nước trên thế giới. Trong thời
gian ấy, những ý niệm tốt đẹp về phát triển thánh địa Lumbini vẫn
thỉnh thoảng hiện ra. Bất cứ lúc nào, khi giảng dạy hay tham dự hội
nghị, hoặc khi gặp những nhân vật quan trọng, tôi đều đem vấn đề phát
triển Lumbini ra nói. Trong số các nhân vật ấy có những học trò và
nhân viên làm việc dưới sự hướng dẫn của tôi. Họ rất ngạc nhiên
không hiểu tôi có duyên nợ gì với Lumbini, vì sao Lumbini cứ ám ảnh
tôi hoài trong khi tôi đâu phải người xứ Nepal, công việc giảng dạy
của tôi cũng chẳng liên quan gì đến xứ ấy. Nhưng sau khi được tôi
giải thích về sự cao cả thiêng liêng của thánh địa và tâm nguyện sâu
xa của tôi, họ đã tình nguyện lặng lẽ hỗ trợ tôi đạt được điều mơ
ước.
2/ Khám phá vẻ đẹp
của đất nước và người dân Nepal
Khi
tôi được mời đến cấp đất xây dựng ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi
Phật giáng trần, không mấy người tin rằng tôi sẽ thực sự dấn thân
vào công việc, vì trước tôi có nhiều người của các cường quốc đã
đến đây khảo sát để xây chùa, nhưng sự thiếu thốn mọi cơ sở hạ
tầng và tiện nghi tối thiểu ở địa phương đã khiến họ không dám quyết
định bắt tay xây cất . Sau khi lấy đất, chúng tôi làm lễ động thổ,
với sự tham dự của đại diện chính quyền trung ương và địa phương cùng
đại diện các nước. Trong buổi lễ tôi đã may mắn tận mắt thấy nhiều
điều mầu nhiệm, cho nên trong vòng chỉ 10 đến 15 phút tôi đã quyết
định ở lại để xây cất Việt Nam Phật quốc tự Lumbini. Tôi khởi sự
xây cất ngôi chùa quốc tế này với chỉ vỏn vẹn 60 đồng Mỹ kim trong
túi. Số tiền này đủ để mua một tấm lều bạt bằng plastic và một số
dụng cụ nấu ăn. Cuộc sống đơn giản của tôi dưới căn lều đầy kỉ
niệm này kéo dài gần sáu tháng rưỡi. Chỉ trong sáu tháng rưỡi ấy
tôi đã tìm thấy nhiều điều hay từ người dân Nepal mà mình cần phải
học.
Mặc dầu nghèo khổ,
túng thiếu, nhưng trên nét mặt của nhiều người tôi thấy được một sự
hồn nhiên đặc biệt.
Tuy nghèo khổ nhưng
họ không tham lam trộm cắp. Xung quanh đất chùa Việt Nam lúc đó không
có hàng rào, đồ đạc xây cất tôi để lung tung nhưng không bị mất. Tôi
ăn ở trong căn liều plastic không người canh gác, nhưng chẳng bao giờ
có cảnh cướp bóc làm tiền hay đe doạ. (Thời gian sau đó mấy người
phụ giúp tôi làm việc chùa, có khi tôi nhờ họ lau quét phòng tôi ở
và làm việc, những tiền bạc và đồ quí tôi để nơi này nơi nọ nhiều
khi khá bừa bãi nhưng không bao giờ mất).
Chiều chiều trước khi
hoàng hôn buông xuống, tôi ngồi trong căn lều nhìn ra thấy các em nhỏ
cỡi trâu bò về nhà đi ngang qua những cánh đồng lúa chín, thổi sáo
và cùng hát những bản dân ca Nepal, làm cho tôi thích thú lạ lùng.
Tuy nghèo không được đi học như các bạn cùng lứa trên khắp thế giới,
nhưng các em có một nếp sống hồn nhiên tự tại với tiếng ca tiếng
sáo, cuộc sống đơn giản đó thật là hoà bình hạnh phúc. Người công
nhân đi làm việc vào thời đó mỗi ngày chưa tới 1 đô la Mỹ, khi đi
làm mang cơm theo ăn, hoặc tới buổi người vợ mang cơm đến tận chỗ
làm. Khi chồng ăn xong, người vợ đi xách nước cho chồng uống; khi ăn
uống xong, anh chồng quay ra ngủ một giấc, kẻng đánh anh ta thức dậy,
vợ múc nước cho chồng rửa chân rửa mặt và khi anh ta bắt đầu đi làm
thì chị vợ rửa chén bát sạch sẽ mang về để lo cơm chiều cho chồng ở
nhà. Tuy không giàu có về vật chất, nhưng cuộc sống của họ thật an
lạc.
Tại gần vườn Lumbini
nơi tôi ở, mỗi tuần có hai buổi chợ chồm hổm vào chiều thứ năm và
thứ bảy gần làng Maylewar và một chợ khác vào chiều ngày thứ hai
phía tây vườn Lumbini. Đi chợ mua đồ ăn, nhưng cũng là tận mắt quan
sát cảnh sinh hoạt của người dân địa phương. Có những gia đình nông
dân trồng được vài kí lô cà rốt, hay có mấy trứng gà nhà đẻ cũng
mang từ làng ra tận chợ, mặc dầu đi xa nhưng họ cũng rất vui vì mang
sản phẩm của mình đi bán. Chính tại đây tôi cảm nhận sự thanh thản
của người dân quê, và cũng chứng kiến tấm lòng đáng quí của họ. Có
lần mua một cây tre của hai vợ chồng nhà kia, tôi đưa tiền và chỉ nói
tôi ở chùa Việt Nam. Kế đến tôi đi mua nhiều đồ cần thiết khác,
quên bẵng cây tre mà tôi đã mua và trả tiền. Mãi đến gần 8 giờ tối
tôi mới về lại chùa Việt Nam, thì thấy cây tre bỏ ngay trước cổng
chùa. Sự việc nhỏ như vậy làm tôi rất cảm động. Một lần khác tôi
đi mua đồ xong lật đật đi ngay quên lấy tiền thối, hai ngày sau con
người chủ tiệm đạp xe đem tiền đến tận chùa Việt Nam cho tôi.
Trong quá trình xây
cất, chùa Việt Nam không được may mắn như chùa các nước khác, rất
hạn chế về tiền bạc, nhưng nhiều người bán vật liệu đã dành cho
tôi nhiều sự dễ dãi vô cùng, đôi khi bảy tám tháng sau có tiền tôi
mới trả nhưng họ cũng không than phiền gì hết.
Lối sống của người
dân vùng xa xôi hẻo lánh này của xứ Nepal gợi cho chúng ta những
triết lý đơn giản, những chìa khoá hạnh phúc an lạc trong cuộc đời
này. Những người nông dân chân lấm tay bùn sống giản dị, ít so đo hơn
thua tranh chấp, có lẽ vì vậy mà cuộc sống của họ an bình chăng?
3/ Lòng yêu mến
đất nươc và người dân Nepal đã thúc đẩy tôi làm được những việc tốt
* Chuyện chim hồng
hạc
Năm đầu tiên tôi
đến Lumbini chưa thấy chim hồng hạc, nhưng tới năm thứ hai, vào một
buổi sáng trong căn lều bạt bước ra tôi thấy hai con chim cao lớn thật
đẹp xuất hiện ngay trước mặt. Tôi cao 1m68 mà hai con chim này còn cao
hơn tôi. Lúc đầu tôi hơi sợ nhưng nhìn kỹ thì đôi chim này trông thật
hiền lành. Khi chúng bay đi, một con bay trước một con bay sau thật nhịp
nhàng, một hình ảnh đẹp tuyệt vời mà tôi có được nơi thánh địa. Sau
đó tôi vào thư viện tìm tài liệu và liên lạc với các nhà môi sinh
trên thế giới, họ cho biết rằng đây là loài chim quí hiếm đang bị đe
doạ tuyệt chủng từ nhiều phía. Thế là tôi đứng ra tổ chức một phong
trào bảo vệ hồng hạc ở Lumbini. Số lượng chim hồng hạc về trú tại
Lumbini mỗi năm mỗi tăng. Hiện nay quanh vùng chúng tôi đếm được 66
con. Dân chúng lúc đầu thậm chí còn lấy trộm trứng chim để ăn, nhưng
được hướng dẫn trong một thời gian ngắn là nhiều người tự động ý
thức bảo vệ chim. Và từ đó đã hình thành ý thức chung về môi sinh
trong dân chúng địa phương
* Cây cầu Việt Nam
trên dòng sông thanh thoát
Khi đi đếm chim hồng
hạc, tôi phải đi bộ từ làng này qua làng nọ, đây cũng là dịp tiếp
xúc tìm hiểu cuộc sống, phong tục tập quán của dân địa phương. Một
buổi sáng nọ đi về phía đông vườn Lumbini gần làng Lankapur, tôi nhìn
thấy một con sông nước chảy rất mạnh. Một cảnh tượng làm tôi đau
lòng là ông già bà lão, đàn bà trẻ em, tất cả đều phải vô cùng
vất vả để lội qua dòng sông này. Hỏi ra mới biết là con sông này
đã từ nhiều trăm năm qua là một tai hoạ lớn vào mùa mưa, dân làng
lội qua sông có rất nhiều người bị chết chìm. Tôi bèn cầu nguyện
rằng những ngày còn ở Lumbini mình có duyên lành đề làm cây cầu cho
mọi người đi qua sau này không còn nguy hiểm nữa. Sau đó tôi đã kêu
gọi anh chị em học trò đệ tử các nơi và nhiều người Việt trong và
ngoài nước Việt Nam đóng góp xây dựng cây cầu. Rồi khi có tiền tôi
họp tất cả dân làng ở hai bên cầu bàn kế hoạch xây cầu. Mọi người
đã tích cực cùng chúng tôi hoàn tất cây cầu chỉ trong vòng 3 tháng
rưỡi.
Cây cầu tình thương
Việt Nam xây dựng xong, một buổi lễ khánh thành đã được dân làng tổ
chức thật tưng bừng. Nhiều người Việt Nam và các nước đã đến tham dự
dưới sự hiện diện của đại sứ Pháp Ambrosiani tại Nepal, nhiều đại
diện các cấp của chính phủ vương quốc Nepal. Từ đó hàng năm cứ đến
ngày kỷ niệm hoàn thành cầu là dân trong vùng làm lễ mừng và nhân
đó thúc đẩy các công việc xã hội chung.
Thỉnh thoảng vào
những buổi chiều thứ bảy, thứ hai, khi có chợ, tôi ra gần cây cầu
ngắm nhìn từng người qua lại một cách an toàn, lòng tôi dâng lên một
niềm an lạc vô biên. Với cây cầu tình thương Việt Nam, dòng sông oan
nghiệt đã trở thành dòng sông thanh thoát.
Trong cuộc đời này
biết bao nhiêu điều hay, mầu nhiệm đã đến với chúng ta. Chỉ cần tâm
thành là ước vọng tốt thành tựu.
Sau việc làm nho nhỏ
này, tôi khám phá ra một triết lý sống vô cùng hữu ích: khi
nào gặp được cơ may làm chuyện phước đức thì chúng ta phải làm ngay,
vì nếu bỏ qua chưa chắc chúng ta có dịp làm vào ngày mai hay trong tương
lai; và làm được việc tốt này thì việc tốt khác sẽ đến.
Sau việc bảo vệ chim
hồng hạc, làm cây cầu, mọi người thi nhau làm việc thiện, đây là
điều làm cho tôi vô cùng hoan hỷ, phấn khởi. Cũng từ đây, người dân
địa phương coi tôi như ruột thịt, như người Thầy, đến đâu tôi cũng được
bà con tiếp đón nồng hậu và xin tôi ban phước lành.
III. Khủng hoảng chính
trị và chiến tranh du kích bùng nổ
Nepal có tiếng là
nước hòa bình ổn định từ bao nhiêu thế kỷ qua, dân tộc Nepal là một
dân tộc được thế giới ca tụng là một trong những dân tộc yêu chuộng
hòa bình nhất thế giới.
Thế nhưng vì nhiều lý
do khác nhau, vào thập niên 1980 đất nước này đã trải qua những bất
đồng và những xáo trộn chính trị, dẫn tới việc các đoàn thể đảng
phái chính trị Nepal thành lập một liên đoàn đòi tự do vào năm 1989,
gọi tên là Jana Andolan, tức "Phong trào của nhân dân". Cuộc biểu
tình ôn hoà đòi dân chủ của dân chúng vào tháng 2 năm 1990 đã bị
cảnh sát đàn áp đẫm máu làm hàng trăm người chết. Trước lời khuyên
của nhiều nước trên thế giới, nhà vua Birendra đã sáng suốt tuyên bố
chấp nhận những yêu cầu của phe đối lập vào ngày 9 thánh 4 năm 1990
và ngày 16 tháng 4 năm 1990 nhà vua yêu cầu các phe thành lập chính
phủ mới. Vua Bidrendra chấp nhận chính thể quân chủ lập hiến và chính
phủ dân sự được thành lập. Nhưng vì thiếu đoàn kết, thiếu tình thương
chân thành giữa các đoàn thể chính trị và các phong trào đòi tự do
dân chủ, Nepal đã đi từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác. Hết
chính phủ này lên lại chính phủ khác xuống, đôi lúc có nội các chỉ
tồn tại có một vài tháng.
Khi đảng Cộng sản
Nepal phân hoá, đảng Cộng sản theo chủ nghĩa Mao (Maoist) tách ra và
tiến hành chiến tranh du kích nhằm lật đổ chế độ quân chủ, phần lớn
lãnh tụ các đảng phái chính trị cho rằng đó chỉ là nhóm phản loạn
không quan trọng và họ rất lạc quan tin rằng chỉ cần vài tháng là
dẹp xong. Trong những lần gặp gỡ nhà vua, các lãnh tụ đảng phái,
trong những buối tiếp tân ở thủ đô, hoặc ở các buổi lễ tại Lumbini
cũng như các nơi khác, hoặc những buổi mà các vị chính khách chủ động
đến với tôi trao đổi ý kiến về tình hình Nepal, tôi đã thân tình và
thẳng thắn đưa ra nhận định là tình hình Nepal mỗi ngày sẽ xáo trộn hơn
và phong trào Maoist sẽ bành trướng mạnh trong một thời gian ngắn. Lời
tiên đoán của tôi từ đầu năm 1996 không mấy người tin, mà phần lớn
các chính trị gia tin vào sức mạnh súng đạn, vào sức mạnh vật chất,
đặc biệt là hay tin vào những cái không đáng tin. Phong trào Maoist đã
lớn mạnh ngay mấy năm sau, khiến mọi người rất ngạc nhiên, cả các
chính trị gia Nepal cũng như các chính trị gia trên thế giới. Phe Maoist
đã mở hàng loạt cuộc tấn công vào các lực lượng an ninh của hoàng
gia, gây chết nhiều người và tiêu hao nhiều của cải. Nhiều lần chính
phủ tìm cách thương thuyết nhóm Maoist ngưng chiến nhưng các lần ngưng
chiến đều không được bao lâu, tiếp đó chiến tranh lại bùng phát với
tốc độ cao hơn. Một số chuyên gia quốc tế được tham khảo về phương
pháp chống và diệt nhóm Maoist đã dựa trên cơ sở cho nhóm này là
nhóm khủng bố, mà thường đề nghị dùng sức mạnh quân sự, mọi thủ
đoạn, mọi vũ khí tối tân để đàn áp tiêu diệt bằng mọi cách. Có
những chuyên gia đề nghị dùng các loại máy bay tối tân của Mỹ bay
trên độ cao, dùng phương tiện hiện đại để quan sát nơi ẩn trốn của
quân Maoist và tiêu diệt như cách dùng trong chiến tranh Vùng Vịnh.
Nhưng những cố vấn này quên rằng Nepal là xứ sở của núi non trùng
điệp rộng mênh mông, và cuộc chiến mà Maoist tiến hành là một cuộc
du kích chiến. Phải tốn bao nhiêu tiền của với bao phương tiện hiện
đại để có thể tìm ra chỉ vài người lẫn trốn trên đó?
Từ khi phe Maoist nổi
dậy tới nay chưa đầy 10 năm mà đã có trên 13000 người bị giết (đây
là con số chưa chính thức, thực tế con số này lớn hơn nhiều). Hàng
chục ngàn người bị thương cả hai phía, hàng trăm ngàn người bị tiêu tan
nhà cửa, ruộng đồng bỏ hoang, của cải hàng tỷ đôla bị phá huỷ. Tất
cả tiền của đất nước đổ dồn vào chiến tranh, sự nghèo đói mỗi ngày
mỗi tăng, và bao giờ cũng vậy, chịu đựng đau khổ nhất vẫn là người
dân thường, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
Chiến tranh càng kéo
dài ngày nào, tài nguyên và sức lực của Nepal càng bị hao mòn chừng
ấy, hận thù mỗi ngày mỗi nặng, triển vọng hoà giải hoà bình ngày
càng khó khăn hơn.
IV. Nếu Nepal vẫn
tiếp tục hận thù và chiến tranh thì tương lai sẽ ra sao?
Nếu vì một lý do nào
đó, một vài người hay đảng phái chính trị vẫn muốn tiếp tục chiến
tranh, hy vọng nắm trọn quyền hành thì đây là một tai hoạ lớn cho dân
tộc và đất nước Nepal. Nếu chiến tranh vẫn tiếp tục kéo dài thì có
thể Nepal sẽ bị chia cắt thành hai phần, phía bắc theo Trung Quốc, phía
nam theo Ấn Độ, tệ hơn nữa có thể tan ra nhiều mảnh nhỏ như Nepal đã
từng là 70 vương quốc nhỏ khác nhau trong quá khứ. Nếu phía Trung Quốc
ủng hộ chính phủ hay phe phái nào, viện trợ súng đạn, phương tiện
quân sự cho họ thì phía Ấn Độ cũng không thể ngồi yên, sẽ ủng hộ
một phe khác và cung cấp vũ khí để cân bằng lực lượng Vì vậy theo
tôi, hai cường quốc Ấn Độ và Trung Quốc, hay bất cứ cường quốc nào
khác, tuyệt đối không nên viện trợ hay bán vũ khí cho các phe phái
Nepal đang dính vào cuộc chiến tranh. Vũ khí bom đạn càng đổ vào Nepal,
thì tình hình bất ổn mỗi ngày chắc chắn sẽ tăng, hận thù càng lúc
càng tăng, hoà bình càng xa vời. Và cuối cùng, cuộc chiến Nepal sẽ
không có ai là người chiến thắng mà tất cả đều thua, mà thua thiệt
lớn nhất là dân tộc và đất nước Nepal. Hơn thế nữa, cuộc chiến này
có thể lan rộng qua nhiều nước lân cận.
V. Tôi từng là nạn
nhân của chiến tranh
Thế kỷ 20 là thế kỷ
của tiến bộ khoa học kỹ thuật đem lại nhiều tiện nghi đời sống vật
chất cho con người mà cũng là thế kỷ mang lại nhiều trận chiến đẩm
máu khốc liệt giữa nước này và nươc khác, hận thù giữa ý thức hệ
này với ý thức hệ khác, gây biết bao nhiêu khổ đau. Con người đã tìm
mọi cách khống chế đàn áp tiêu diệt lẫn nhau bằng súng đạn, bằng
những phương tiện tối tân. Một trong những cuộc chiến đẫm máu và ác
liệt nhất là chiến tranh Việt Nam. Tôi đã sinh trưởng trong cuộc chiến
tàn khốc ấy và là nạn nhân khốc liệt của nó. Không có nước nào
kém may mắn phải chịu cảnh tang thương như nước tôi. Trong 30 năm chiến
tranh, đất nước tôi đã hứng chịu hàng trăm triệu tấn bom đạn ném
xuống, những vũ khí tối tân nhất thế giới đã được đem đến thí nghiệm
tại Việt nam làm hàng triệu người chết và bị thương, hàng triệu người
tàn tật, ruộng vườn nhà cửa tan nát. Cũng không có nơi đâu tập trung
số lớn tử vong của nhiều dân tộc khắp năm châu trên thế giới
(những người bị bắt đi đánh nhau và bị giết) như Việt Nam.
Sau khi chiến tranh
chấm dứt, hàng triệu vong hồn yểu tử ở các phe lâm chiến đến nay
vẫn chưa được siêu thoát. Vì hận thù oan ức, các vong hồn chiến sĩ
và nạn nhân chiến tranh tiếp tục quấy phá Việt Nam với nhiều hình
thức, và tất cả các nước lâm chiến cũng không tránh khỏi thiên tai
dịch hoạ của luật nhân quả. Tôi mong rằng một ngày nào đó chính phủ
Việt Nam và những người có trách nhiệm với Việt Nam hãy cùng làm lễ
cầu siêu cho các chiến sĩ trận vong đồng bào tử nạn, thỉnh hương linh
họ vào cúng thờ trong một ngôi chùa, kể cả hương linh các đồng minh,
không phân biệt phe phái quốc gia hay cộng sản, kể cả những người
vượt biên lánh nạn chẳng may chết ngoài biển cả hay trong rừng sâu,
tất cả các vong linh đều phải được cầu siêu một cách long trọng,
được cung kính như nhau để họ được vui lòng siêu thoát. Đại lễ chẩn
tế cầu siêu này cần phải được tổ chức trang trọng và chu đáo đúng
theo nghi thức cổ truyền.
Khi nào Việt Nam làm
được việc này thì nước Viêït Nam mới vươn lên được. Truyền thống Việt
Nam từ ngàn xưa thường nói âm có siêu thì dương mới thới, nghĩa là
những vong hồn yểu tử có siêu thoát thì người sống mới bình an. Những
nước từng đưa súng đạn, vũ khí và binh sĩ xứ họ tham chiến ở việt Nam
qua các thời kỳ cũng phải làm lễ cầu siêu cho các chiến sĩ của họ
bị chết tại Việt Nam. Và, hương linh cần đưa về xứ họ một cách đàng
hoàng cung kính, nếu không thì các hương linh đó sẽ tiếp tục hận thù
và cũng sẽ quấy phá chính đất nước đã đưa họ vào chiến tranh và bị
giết ở Việt Nam.
Tôi cũng mong khi
chiến tranh Nepal chấm dứt, các đảng phái chính trị, nhà vua cùng mọi
người Nepal cùng làm lễ cầu siêu cho trên 14000 người chết trong cuộc
chiến đẫm máu nhiều năm tại Nepal này. Nếu được như vậy thì Nepal sẽ
phát triển vươn lên, nếu không thì những vong hồn yểu tử tiếp tục
quấy phá Nepal và các nước đưa súng đạn, vũ khí và phương tiện chiến
tranh vào cuộc chiến đẫm máu tại Nepal.
Tôi tha thiết mong
các phe phái Nepal nhìn vào tấm gương đau khổ của đất nước tôi một khi
chiến tranh kéo dài. Mặc dù cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt hơn 30
năm rồi nhưng vết tích chiến tranh vẫn chưa hàn gắn được. Người Việt
Nam phần lớn theo đạo Phật hay hoan hỷ tha thứ, cố quên đi dĩ vãng đau
buồn, nhưng sự nghi kỵ vẫn còn tiềm tàng không ít giữa những người là
nạn nhân của chiến tranh bên này hay bên kia. Phải mất nhiều năm và
lòng kiên nhẫn mới xoá tan hết được hận thù.
VI. Luật Nhân Quả –
Nhân Tốt Quả Tốt – Nhân Xấu Quả Xấu
Cuộc đời tôi phần
lớn được giáo dục và đào luyện trong môi trường khoa học Âu Mỹ, cho
nên đối với mỗi sự kiện, mỗi biến chuyển lịch sử của từng cá nhân,
từng tập thể, từng quốc gia … tôi đều quán sát qua lăng kính của khoa
học, và tôi nhận thấy rằng tất cả mọi sự kiện và kết quả của nó
đều bị chi phối bởi luật nhân quả.
Luật nhân quả thật
là kỳ diệu, thật là khoa học, thật công bằng. Phải bình thản, tĩnh
tâm thì mới thấy được sự biến chuyển và kết quả vô cùng vi tế của
nó. Nó chính là thể hiện lẽ công bằng của tạo hoá và vũ trụ.
Sau đây tôi xin mạn
phép nêu lên một vài dẫn chứng mà tôi đã tham khảo, nghiên cứu qua
lịch sử đất nước Việt Nam và thế giới.
Vào thế kỷ thứ 10,
đất nước Việt Nam tôi có một vị vua tên là Lê Long Đĩnh, biệt danh
còn được gọi là Lê Ngọa Triều, đã cai trị Việt Nam bằng những tư
tưởng và hành động tàn ác. Mỗi lần nhà vua nổi giận, ông có thể
làm bất cứ điều gì bất chấp hậu quả của nó. Chỉ vì bất bình với
vài vị tu sĩ Phật giáo mà ông đã ra lệnh róc mía trên đầu các vị sư.
Triều đại Lê Ngoạ Triều đã gây biết bao tang thương cho dân tộc và
cho đất nước Việt Nam, vì vậy đã không tồn tại được bao lâu, và cuối
cùng nhà vua đã bị chết một cách đau khổ!
Vào thế kỷ thứ 3
trước kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, trên trái đất này có một vị vua
tên là Ashoka, chắc quí vị ai cũng biết khá rõ về lịch sử của vị vua
này. Sau trận đánh Kalinga, trên trăm ngàn người chết, máu chảy thành
sông, sửng sốt trước sự tàn phá của chiến tranh gây biết bao nhiêu
đau khổ cho loài người, vua đã bẻ gươm và thệ nguyện từ bỏ bạo lực
và nguyện chinh phục lòng người bằng sự Từ Bi Hỷ Xả. Ashoka
đã mở một
trang sử mới cho nhân loại, và từ đó vẫn là một tấm gương sáng chói
cho mọi người noi theo. Dù là người chiến thắng nhưng tự nguyện bẻ
gươm, vì vậy Ashoka đã trở thành con người bất tử trong lịch sử nhân
loại.
Vào thế kỷ qua, một
trong những người làm sáng chói lịch sử nhân loại đó là thánh Cam Địa
( Mahatma Gandhi). Người đã áp dụng thành công chủ thuyết bất bạo
động của đức Phật, đem lại độc lập của xứ Ấn Độ và nhiều thay đổi
tốt cho thế giới. Nếu Ấn Độ dùng phương pháp bạo động thì chưa chắc
Ấn Độ được tốt đẹp như hôm nay.
Gần đây tôi chứng
kiến một vị lãnh đạo tinh thần nổi tiếng khắp thế giới, khi còn sống
tiền bạc quyền uy là mục đích chính của vị nầy, ông có thể làm bất
cứ điều gì miễn sao đạt được các thứ trên. Nhưng hỡi ôi! Chưa cuối
cuộc đời, ông không thể làm chủ được mình cho việc ăn uống kể cả
việc vệ sinh. Ông phải nhờ máy ăn dùm trong vòng 3 năm! Sau khi qua
đời, tiền bạc của ông bị nhà băng tịch thu.
Còn vô số những mẫu
chuyện sống động về nhân quả xung quanh chúng ta mà mỗi chúng ta phải
tự mình lắng lòng chiêm nghiệm lấy để thấy được sự công bằng của
nó. Luật nhân quả, một sự công bằng tuyệt đối cho tất cả chúng ta.
VII. Hoà bình có thể
có được trong tầm tay của người Nepal
Nhiều người Nepal
thất vọng và mệt mỏi vì cuộc chiến hiện tại đã đến than thở với
tôi, họ bi quan nói rằng đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch
sử Nepal, họ cho rằng chiến tranh Nepal sẽ không bao giờ chấm dứt, cho
đến khi nào nước này tan rã thành trăm nước nhỏ và các phe đều kiệt
sức thì mới có hoà bình. Mặc dầu tình hình rất xấu và nhiều tiêu cực
trong các phe lâm chiến nhưng tôi vẫn lạc quan và tin tưởng vào triển
vọng hoà bình Nepal. Vì đất nước Nepal là một đất nước linh thiêng,
phần lớn người Nepal sống nhân hậu và tâm linh. Đất nước này còn
nhiều phong tục truyền thống tốt đẹp. Đất nước này có nhiều vị Phật
và thánh nhân ra đời. Đặc biệt Nepal có một thứ triết học rất quý
báu nếu mọi người Nepal biết áp dụng, thực tâïp chân thành thì đó
chính là đảm bảo vô giá không có gì sánh bằng cho việc giải quyết
xung đột, lập lại hoà bình trên đất nước mình.
1. Triết học
Nepal phải được thực tập chân thành
Từ hai mươi sáu thế
kỷ trước, Phật Thích Ca, người con của Nepal đã chứng nghiệm và chỉ cho
chúng sanh một triết lý tới ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị:
Hận thù không trừ diệt được hận thù, chỉ tình thương mới xoá bỏ
được hận thuø. Tôi xin mạn phép gọi triết học từ bi của Đức
Phật là triết học Nepal. Môït triết học đơn giản như vậy, nhưng khi
thực hành, nó sẽ mang lại kết quả vô cùng to lớn.
Trong khi từ nhiều
thế kỷ qua trên thế giới, để chế ngự và dậïp tắt bạo lực từ những
thế lực này, các thế lực khác lại sử dụng súng đạn và bạo lực,
đã đưa đến hận thù chồng chất, và kết quả thật tang thương đau khổ.
Ngày nay thế giới giàu có rất nhiều tiện nghi về vật chất, nhưng
thiếu tình thương, thiếu sự thông cảm thiếu sự hiểu biết, kế đến là
sự bất công, sự khai thác quản lý tài nguyên thiên nhiên không quân
bình, đó là những nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng, hận thù và
chiến tranh.
Bởi vậy tôi tin
tưởng một cách quyết liệt rằng: nếu các nhà lãnh đạo Nepal, từ nhà
vua cho đến thủ lĩnh và đảng viên các đảng phái chính trị, kể cả phái
Maoist, nếu thành tâm muốn có hoà bình thì hoà bình sẽ có ngay nơi đất
nước này, hoà bình trong tầm tay của quí vị, không cần phải tìm đâu xa,
không cần phải đi xin cầu nơi nào khác. Hãy noi theo chủ thuyết Từ Bi
Hỷ Xã, chủ thuyết bất bạo động của Phật Tổ, giải pháp hoà bình
Nepal có sẳn trong tay người Nepal, không cần phải tìm cách nhập cảng
từ đâu.
Từ nhà vua đến các
lãnh tụ và đảng viên các đảng phái chính trị đều sanh ra và lớn lên
trên đất Nepal này, tôi tin rằng dẫu gì thì các vị đó cũng chịu ảnh
hưởng gián tiếp hay trực tiếp lòng từ bi của Phật và các bậc vĩ
nhân Nepal, tôi cũng tin tưởng rằng các vị đó cũng xót xa đau khổ khi
thấy nhân dân mình còn đổ máu và nghèo khổ, cho nên sớm hay muộn
các phe cũng quay lại cội nguồn tốt đẹp từ ngàn xưa, tha thứ cho nhau
qua sự cởi mở hiểu biết, từ đó giải quyết khủng hoảng của đất
nước.
Nếu những người Nepal
thành công trong việc này thì đây là niềm hảnh diện lớn nhất của
người Nepal và cũng là niềm hảnh diện lớn của nhân loại, và đây
cũng là tấm gương sáng cho nhân loại noi theo. Khi Nepal thật sự có
hoà bình, hàng triệu triệu ngươì khắp nơi trên thế giới sẽ đến viếng
Nepal và học hỏi từ người Nepal, sẽ viếng thăm Lumbini nơi giáng trần
của Đức Phật Thích Ca và những vùng tuyệt đẹp của Himalaya trong đó
có ngọn Everest hùng vĩ.
Khi hoà bình trở lại
xứ Nepal, tôi mong được đón tất cả các lãnh tụ, các phe phái lâm
chiến đến dự một bửa tiệc do tôi khoản đãi tại Viêt Nam Phật quốc
tự Lumbini, ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật giáng trần. Tôi sẽ
mời những đầu bếp nấu ăn ngon nhất từ Việt Nam và thế giới sang để
đảm trách nấu nướng đãi các lãnh tụ Nepal và khách các nước đến
tham dự buổi tiếp tân lịch sử hoà bình Nepal. Tôi rất mong ngày đó sẽ
đến với Việt Nam Phật Quốc Tự càng sớm càng tốt.
2.
Kinh nghiệm tháo gỡ nguy cơ chiến tranh trong lịch sử Nepal
Vào đầu thế kỷ thứ
7 Tây Tạng đã trở thành một nước hùng mạnh dưới sự lãnh đạo của
Songtsen Gampo, vua Tây Tạng từ lâu đã dòm ngó và định đánh chiếm
Nepal. Vua Nepal cùng triều thần và dân chúng thời đó khi biết rõ nguy
cơ trên đã cùng bàn thảo để tìm phương cách đối phó. Có một phương
án quyết liệt đánh lại Tây Tạng khi Nepal bị xâm chiếm. Nhưng sau
nhiều cuộc thảo luận, vua và dân Nepal khôn khéo dùng trí tuệ ngăn
chặn cuộc chiến thành công. Máu không chảy, đầu không rơi, dân chúng
được hoà bình an lạc. Nhà vua Amsuvarma quyết định gả công chúa Bhrikuti
cho vua Tây Tạng. Công chúa Bhrikuti về Tây Tạng mang theo truyền
thống tốt đẹp của Nepal và mang theo tượng Phật Aksobhya. Trước khi
công chúa đến Tây Tạng thì xứ này chưa ai biết đạo Phật là gì, nàng
đã truyền Phật pháp vào xứ này, dân Tây Tạng rất ngưỡng mộ yêu
mến bà và gọi bà là Belsa hay Trisung, tức là bà hoàng của xứ Nepal.
Đạo Phật từ đây đã được dân chúng Tây Tạng hoan hỷ đón tiếp một
cách tự nhiên. Công chúa Bhrikuti kết hôn với vua Tây Tạng Songtsen
Gampo tạo ra một kỷ nguyên thanh bình giao hảo mới giữa hai nước Tây
Tạng và Nepal. Thế là hai nước không bị hao tổn tài sản sinh mạng vì
chiến tranh, Tây Tạng được hấp thụ thêm một nền văn minh mới, một
tôn giáo mới đó là đạo Phật, đạo của hoà bình từ bi, đạo Phật chảy
trong huyết mạch người Tây Tạng từ đó cho đến nay. Ngày nay chúng ta
thấy một số chùa tháp Tây Tạng chịu ảnh hưởng lớn của nghệ thuật
Nepal, tiêu biểu nhất là tu viện Jokhang tại Lasha do nghệ nhân người
Nepal xây cất. Về phía Nepal thì tránh được cảnh chiến tranh tàn hại,
tránh được sự nguy cơ mất nước, trái lại đã có quan hệ hoà bình thân
thiết với Tây Tạng. Nepal còn được lợi lớn về mặt kinh tế, đó là
có được Tây Tạng như một thị trường tiêu thụ hàng hoá sản xuất từ
nước mình.
Mười hai năm sau vua
Tây Tạng Songtsen Gampo lại định đánh nước Trung Hoa nhưng vua nhà Đường
cũng đã khôn khéo theo gương Nepal mà gả công chúa Văn Thành cho
Songtsen Gampo, thế là có hoà bình, đồng thời nền văn minh phong tục
tập quán Trung Quốc được đưa vào Tây Tạng một cách tuyệt vời. Văn
Thành công chúa khi sang Tây Tạng cũng mang theo một tượng Phật, lòng
sùng tín và tư cách cao đẹp của công chúa đã cải hoá vua Songtsen
Gampo từ một ông vua hiếu chiến khát máu trở thành một nhà vua văn
minh, nhân từ đạo đức. Tượng Phật của Văn Thành công chúa được coi
như quốc bảo Tây Tạng từ đó đến nay và được thờ tại chùa Jokhang ở
Lasha.
Hai sự kiện lịch sử
trên đã cho chúng ta thấy rằng: với lòng từ bi chân thành và
trí tuệ, chúng ta có thể giải quyết những khủng hoảng một cách tốt
đẹp bằng phương pháp từ bi trí tuệ, bằng sự hiểu biết và thực hành
bất bạo động.
3.Nguyên nhân bất ổn
và chiến tranh
Khi chiến tranh xảy
ra, các phe phái thường đổ lỗi cho nhau, mà không chịu nhìn thẳng vào
gốc gác sâu xa của nó.
Bất cứ vấn đề gì
xẩy ra cũng có nguyên nhân trực tiếp hay gian tiếp, hễ có đốm lửa
ban đầu thì sẽ có cháy rừng. Sự tu tập hoà bình không được thực
hành, kế đến là sự nghèo đói. Lịch sử cho thấy những cuộc cách mạng
xẩy ra là do nghèo đói và bất công, cộng thêm thiên tai làm con
người quá cơ cực nên họ liều nỗi dậy. Nếu mỗi con người đều có cơm
ăn áo mặc, có giáo dục đúng mức, có cuộc sống ổn định thì chắc
không mấy ai muốn đi làm cách mạng, không mấy ai nỗi loạn. Chiến
tranh và bất ổn có nhiều lý do, nhưng phần lớn cũng do nghèo đói bất
công trông xã hội. Những người lãnh đạo không sáng suốt giải quyết
bất công xã hội, lâu ngày bất công chồng chất, tức nước tất phải
vỡ bờ, thế là chiến tranh xảy ra. Giáo dục hoà bình cũng vô cùng
quan trọng. Có nhiều nước giàu có, tiền đầu tư cho giáo dục rất
nhiều, nhưng không chú trọng giáo dục hoà bình, mà ngược lại quảng
bá tinh thần bạo lực, quảng bá chiến tranh. Thí dụ như qua phim ảnh
tràn lan lôi cuốn cả trẻ em và người lớn, những cảnh cướp của giết
người vô đạo đức không tình người, vẫn được trân trọng chiếu và
được khen tặng, nhận giải thưởng quốc tế. Thực chất đó là giáo dục
thông tin chiến tranh có hệ thống. Hỏi như vậy làm sao không có chiến
tranh?
VIII. Tôi không thể
ngồi yên nhìn cảnh chết chóc xảy ra nơi đất nước tôi đang sống
Như tôi đã nói, nhân
duyên đưa đẩy tôi đến sống và làm việc ở đất nước Nepal này, đất
nước này là biểu tượng của thanh bình, của sự hoà hợp giữa con người
với con người, con người và thiên nhiên. Nhưng hỡi ơi chiến tranh bùng
phát và kéo dài đến hôm nay!
Nhìn tận mắt cảnh
giết chóc của hai bên, cảnh chạy loạn của dân chúng, cảnh lo khổ
của dân thường, cảnh bắt bớ và khủng bố, tôi hồi tưởng lại chiến
tranh hãi hùng của Việt Nam cách đây trên 30 năm mà tôi đã chứng
kiến. Thật là đau khổ và tủi hổ khi mình sống trong một đất nước mà
những người xung quanh bị giết chết, bị khổ đau bởi chiến tranh hận thù
mà mình không giúp được gì cho họ vơi khổ phần nào. Nhiều câu hỏi cứ
liên tục ẩn hiện trong đầu tôi. Muốn được bình an không bận trí, thì
cách hay nhất là rời bỏ xứ này, sẽ có an lạc cho chính mình ngay.
Nhưng tôi suy nghĩ: khi tôi đến Nepal ở thì xứ này sống trong hoà bình,
nay chẳng may Nepal lâm cảnh chiến tranh tôi đành bỏ mà đi sao đành.
Nhiều ngày đêm trằn trọc, cuối cùng tôi đã quyết định không thể rời
bỏ xứ này trong lúc chiến tranh vẫn còn, dân chúng vẫn còn đau khổ.
Tôi quyết định ở lại đây làm được điều gì tốt cho người dân Nepal
tôi sẽ rất vui mừng và tự nguyện cố gắng làm.
Tôi là người ngoại
quốc, tôi không có quyền xen vào chuyện chiến tranh, chuyện nội bộ
của nước Nepal mà tôi đang sống. Nhưng tôi tự thấy mình có bổn phận
đóng góp vào sự khôi phục hòa bình của xứ sở đang đùm bọc mình như
một người con.
Quan điểm của tôi là
tìm mọi cách mọi phương tiện thuyết phục các phe lâm chiến hãy quay
về những truyền thống tốt đẹp mà Nepal đã có từ ngàn xưa để có
được cuộc sống hoà bình an lạc.
IX. Những bước đầu
của cuộc vận động hoà bình
1. Buổi trình
bày về hoà giải hoà bình tại Câu lạc bộ Báo chí Nepal giữa năm
2004:
Lúc đầu tôi và một
vài học trò, thân hữu đã âm thầm kế hoạch vận động trong điều kiện
vô cùng khó khăn, nhưng chúng tôi tâm niệm rằng việc mình làm dù chỉ
giống như đem một lon nước xối vào đống lửa đang cháy, song biết đâu
chừng ly nước từ phía người ngoài cuộc đó sẽ làm những người trong
cuộc chiến suy nghĩ lại.
Cuộc gặp gỡ báo chí,
các đảng phái chính trị, các nhóm tham chiến của tôi ở câu lạc bộ
báo chí Nepal đã đạt một kết quả rất phấn khởi. Cuộc họp này đã
được tổ chức vào ngày 12/6/2004 tại thủ đô Kathmamdu. Trong cuộc này
báo chí Nepal và ngoại quốc đặt rất nhiều câu hỏi gay gắt và rất
hay. Kế đến là sự phát biểu thẳng thắn của đại biểu các đảng phái
chính trị. Lúc đầu nhiều phát biểu đối nghịch và đổ lỗi lẫn nhau,
riêng phần trình bày hoà bình của tôi đã được phần lớn tán đồng,
tuy có một số đại diện các đảng phái nhỏ không đồng ý vì các vị
này vẫn còn tin tưởng vào sức mạnh của súng đạn, của bạo động và
áp lực. Tuy vậy chỉ gần một năm sau , chính các vị đó đã đổi ý mà
ủng hộ cho đường lối hòa giải theo phương pháp bất bạo động tôi đề
ra.
Một trong những điểm
đầu tiên mà tôi đề nghị là các phe hãy ngưng ngay lập tức lời nói
hay hành động có tính cách hận thù, bạo động. Hãy tập tha thứ và
phát triển tình thương. Theo tôi đây là bước đầu rất quan trọng để
tiến tới thảo luận giải quyết chiến tranh. Chiến tranh khủng hoảng
phần lớn khởi sự từ thái độ của con người. Thái độ thân thiện khoan
dung, từ bi thì sẽ có hoà bình an lạc, trái lại thái độ khiêu khích,
thái độ hận thù thì chiến tranh sẽ xảy ra.
Tôi đã đề nghị các
phe lâm chiến cùng nhau đến Lumbini chiêm bái và Việt Nam Phật quốc
tự Lumbini sẽ là nơi gặp nhau trong tình huynh đệ để nói chuyện hoà
bình cho Nepal. Lumbini là nơi giáng trần của Phật Thích Ca, đấng sứ giả
của hoà bình, của lòng từ bi vô lượng, vì vậy tôi tin tưởng nếu các
phe lâm chiến gặp gỡ tại đây trong khung cảnh lịch sử thiêng liêng,
họ sẽ được Ngài dẫn dắt và soi sáng. Tôi đề nghị trước khi nói
chuyện hoà bình mọi người phải tĩnh tâm thực tập, tu tập trong một
tháng hay ít nhất thì một tuần lễ. Khi tinh thần có hoà bình thì việc
nói chuyện hoà bình mới kết quả. Nếu tâm không có hoà bình thì vấn
đề hội họp hoà bình chỉ là hình thức, chỉ là sách lựơc trì hoãn để
tiếp tục tìm cách hại nhau, như vậy hoà bình sẽ không bao giờ tới, mà
có tới thì chỉ là tạm thời mà thôi.
Sau lời kêu gọi của
tôi, một số đại diện các đảng phái âm thầm thu xếp với nhau để có
cuộc gặp gỡ tại Lumbini. Nhưng tiếc rằng việc triệu tập một cuộc họp
lịch sử như thế này đã không được chuẩn bị đầy đủ tế nhị và kín đáo
nên đã không thành công.
2. Kêu gọi ngưng bắn
nhân lễ mừng năm mới 2005:
Chiến tranh tiếp tục
ngày càng căng thẳng, mặc dù dư luận quốc tế nhiều lần lên tiếng
kêu gọi các bên hãy nhanh chóng thương lượng tìm giải pháp hoà bình.
Gần tới ngày lễ Dasain, lễ mừng năm mới của Nepal, mọi người hy vọng
ít ra có một dịp ngưng chiến để người dân yên vui xum họp và chúc
mừng năm mới, nhưng không một tín hiệu tốt nào được phát ra từ cả
hai bên. Các bạn người Nepal của tôi, trong đó có một số nhà lãnh
đạo đảng phái, yêu cầu tôi đứng ra kêu gọi ngưng chiến. Tôi còn băn
khoăn vì không tin lắm ở hiệu quả của việc này, thì tiếp đến một số
quan chức cấp bộ và chính trị gia xin đứng ra tổ chức để tôi có một
buổi nói chuyện về hoà bình tại thủ đô Kathmandu.
Buổi nói chuyện diễn
ra tại trung tâm văn hoá Kathmandu, có sự tham dự của đại diện các
đảng phái, đại diện chính phủ, đại diện ngoại giao, đại diện nhà vua,
và được biết phe Maoist cũng bí mật cử đại diện đến nghe. Bài nói
chuyện của tôi xoay quanh mấy điều căn bản để có hoà bình: Tha
thứ, phát triển từ bi, tình thương, thân hữu, thành thật, thông cảm,
quyết tâm thành thật giải quyết bất đồng. Tôi nói nếu các
phe thực hiện các điều trên thì tôi tin chắc hoà bình sẽ đến. Sau
cùng tôi tha thiết kêu gọi các bên ngưng chiến nhân dịp lễ Dasain (Lễ
mừng Năm mới). Buổi nói chuyện đã được mọi người tán thưởng nhiệt
liệt. Đại diện các đảng phái đều tới cảm ơn tôi, và có người cho
biết trong số những quan khách tới chào tôi một cách trân trọng có
cả đại diện phe Maoist. Ai nấy tin tưởng rằng lời kêu gọi ngưng bắn
của tôi sẽ có kết quả.
Ngay trong đêm hôm đó,
một cú điện thọai đánh thức tôi: ông M. Pradhan, một vị trong ban tổ
chức vui mừng cho tôi hay là phe Maoist vừa tuyên bố đơn phương ngưng
chiến 9 ngày nhân dịp lễ đầu năm. Được tin này tôi rất phấn khởi,
vội lấy giấy biên thư cảm ơn các nhà lãnh đạo Maoist đã đáp ứng lời
kêu gọi của tôi, và tôi đề nghị họ nên kéo dài thêm thời hạn đình
chiến. Cùng lúc tôi biên thư cho nhà vua và thủ tướng Dubar Bahadur
kêu gọi họ cũøng tuyên bố ngưng chiến. Phía chính phủ cho tôi biết họ
nghi ngờ thực tâm của phe Maoist, ngưng chiến chỉ là chiến thuật trì
hoãn để chuẩn bị chuyển sang một giai đoạn chiến tranh mạnh hơn. Tuy
vậy tôi vẫn thuyết phục được phía chính phủ tuy không tuyên bố nhưng
sẽ ngưng các cuộc tảo thanh Maoist trong thực tế và chỉ đánh trả lại
nếu bị tấn công.
Sau dịp lễ đầu năm,
một số người Nepal đã đến cảm ơn tôi và cho biết đây là lần đầu
tiên từ khi cuộc chiến tranh bùng nổ họ có dịp trở lại thăm quê
hương trong vùng kiểm soát của phong trào Maoist
3. Kêu gọi bãi bỏ
chỉ thị đình công bãi thị trong dịp đại hội thượng đỉnh quốc tế ở
Lumbini:
Vào ngày 30/11 đến
2/12/2004 có một cuộc họp thượng đỉnh của các lãnh đạo chính trị và
phái đoàn Phật giáo nhiều nước tại Lumbini, dưới sự bảo trợ của
chính phủ Nepal, cùng với sự ủng hộ của LDT và nhiều tổ chức khác.
Mục đích đại hội thượng đỉnh quốc tế lần II này là chính phủ Nepal
muốn tăng cường uy tín về ngoại giao với các nước trên thế giới, tạo
thế mạnh để có sự hỗ trợ của nhiều nước hơn.
Nhiều công sức đổ ra
từ nhiều tháng với hy vọng đại hội thành tựu sẽ đem lại lợi lạc
nhiều cho đất nước Nepal. Nhưng tình cảnh chiến tranh vẫn tiếp diễn
với cường độâ mạnh hơn trước là một đe doạ lớn cho đại hội. Chính
phủ Nepal đã nhiều lần kêu gọi nhóm Maoist ngưng chiến nhân đại hôïi
và mời họ đến tham dự đại hội, nhưng Maoist từ chối, và chiến tranh
khắp nơi vẫn tiếp diễn. Ngày đại hội mỗi lúc một gần, ban tổ chức
vô cùng lo lắng: nếu phe Maoist quyết tâm phá thì chỉ cần một tiếng
súng hay một quả bom nổ trong khu vực Lumbini vào dịp đại hội tiến
hành cũng đủ làm thất bại đại hội và uy tín của chính phủ và nhà
vua sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Liên tiếp nhiều lời kêu gọi ngưng
chiến phát ra từ nhiều gương mặt chính trị khác nhau đều không có lời
đáp.
Ba ngày trước khi đại
hội khai mạc phe Maoist cho nổ hai trái bom tại một số làng gần
Lumbini. Chỉ hai trái thôi nhưng đã làm chấn độâng tất cả. Sáng hôm
sau thủ lãnh Maoist địa phương ra lệnh đình công bãi thị, không có xe cộ
nào được di chuyển, phố xá tất cả đếu phải đóng cửa.
Sáng hôm sau đường
xá vắng tanh, chỉ có xe của chính phủ, ngoại giao đoàn với sự hộ tống
hùng hậu của những đoàn xe quân đội và cảnh sát với các loại súng
ống tối tân, thật là một cảnh tượng đầy căng thẳng. Tôi và mọi
người trong ban tổ chức rất lo lắng vì sợ chiến tranh xảy ra không
biết lúc nào. Nhiều tin đồn hàng trăm trái bom sẽ được cho nỗ khắp
nơi nhắm vào phá tan đại hội quốc tế Lumbini.
Trong tình cảnh đó,
các vị trong ban tổ chức cũng như nhiều chính trị gia tha thiết yêu cầu
tôi lần này chính thức gặp đại diện phe Maoist để đề nghị họ ngưng
bắn trong dịp đại hội quốc tế, ít nhất là trong phạm vi quận Rupandehi
(quận có vùng thánh địa Lumbini).
Sau nhiều đắn đo, tôi
chấp nhận yêu cầu nhưng lại băn khoăn không biết làm sao liên lạc
với phe Maoist.
Tôi vào lễ Phật,
tụng một thời kinh ngắn cầu nguyện, kế đến ngồi tĩnh tâm, 10 phút sau
tôi có quyết định là phải bay lên thủ đô Kathmandu ngay để gặp gở
báo chí nhờ yêu cầu chuyển đạt yêu cầu của tôi với phe Maoist, tôi
tin tưởng đó là cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Buổi gặp gỡ giới
báo chí hôm đó tại Câu lạc bộ Báo chí không có đại diện các đảng
phái chính trị, ngoài các phóng viên chỉ có một số nhân sĩ trí thức
và kĩ nghệ gia. Trong cuộc gặp gỡ ngắn ngũi 1 tiếng 30 phút, tôi trình
bày lý do sự hiện diện đột xuất của tôi tại Kathmandu. Tôi nói rõ
tôi không được sự nhờ cậy hay ủy nhiệm của chính phủ, mà hoàn toàn
tự nguyện lên tiếng vì danh dự của Nepal qua việc tổ chức đại hội
thượng đỉnh quốc tế lần thứ hai tại Lumnini. Đại hội này là biểu
tượng của sự hợp tác ôn hoà của dân tộc Nepal với các nước trên
thế giới, và cũng là dấu hiệu tốt cho vấn đề hòa bình Nepal. Tôi
trân trọng kêu gọi các nhà lãnh đạo Maoist chỉ thị các cấp địa phương
ngưng cho nổ bom và rút lui chỉ thị đình công bãi thị 3 ngày tại quận
Rupandehi. Tôi trân trọng nhờ báo chí chuyển lời kêu gọi chân thành
của tôi đến các lãnh tụ phe Maoist. Thật mầu nhiệm thay, chỉ 4 tiếng
đồng hồ sau, chúng tôi rất vui mừng nghe các đài phát thanh FM cũng
như hãng thông tin ngoại quốc thông báo là các lãnh tụ Maoist đã
quyết định rút lui chỉ thị đình công ba ngày như đã thông báo trước
đây. Mọi người thở phào nhẹ nhỏm.
Tuy chiến tranh chưa
chấm dứt nhưng tôi cho những sự việc trên đây là dấu hiệu tích cực
cho thấy hoà bình vẫn còn hy vọng có thể đến với người Nepal.
X. Hoà bình không
phải là quà tặng tự nhiên đến
Thỉnh thoảng
tôi được nghe phe này phe nọ đổ lỗi cho nhau. Tôi chân thành mong họ
nên quên đi quá khứ, và tất cả mọi người cần tu tập. Tập tha thứ,
phát triển lòng từ bi, dẹp tan sự sợ hãi bằng những hành động cụ
thể. Tôi thường nói mọi người Nepal đang sống trong lò lửa,
đừng bao giờ đổ thêm dầu hay một chất cháy nào vào nữa, mà chỉ nên
đổ nước lạnh vào. Mỗi người một thùng nước lạnh thì ngọn lửa trước
sau gì cũng phải tắt.
Thật vậy,
chúng ta phải bình tĩnh vượt qua mọi dị biệt, tất cả mọi khó khăn đều
có thể giải quyết một cách tốt đẹp qua thái độ thân thiện, đức
tánh tha thứ, với lòng từ bi, tình thương.
Nhiều người
vẫn còn mơ mộng và lầm lẫn là muốn có hoà bình thì phải van xin, hay
chỉ cầu khẩn suông hoặc xin viện trợ như một quà tặng. Đức Phật đã
có một quan điểm rất rõ : Hoà bình là kết quả của một ý chí
quyết liệt, một sự tu tập và theo đuổi không mệt mỏi, một vấn đề
tự kiềm chế, tự giáo dục, tự huấn luyện.
Hoà binh
không phải chỉ lý thuyết xuông, mọi người phải có ý thức trách
nhiệm và chân thành thực tập từ lời nói đến cử chỉ hành động.
Hoà bình có
hay không là tuỳ thuộc vào những người lãnh đạo và người dân trong
cả nước.
XI. Giải
pháp để có được hoà bình chắc chắn:
1.
Các đảng phái chính trị Nepal đang hoạt động công khai cần phải chân
thành đoàn kết thật sự một cách chặt chẻ để có hành động chung,
phải luôn luôn có sự tương kính hỗ tương kể cả giữa các lãnh đạo và
giữa các đảng viên. Lãnh tụ đảng phái này không nên chỉ trích đảng
phái khác. Đảng nào được người dân tín nhiệm lãnh đạo chính phủ, có
những chánh sách tốt và việc làm tốt cho đất nước Nepal thì các đảng
khác phải chân thành ủng hộ quyết liệt mà không nên có mưu đồ lật
đổ. Một chính phủ được lòng dân và ổn định thì hòa bình sẽ đến.
2.
Đối với đảng Cộng sản Maoist: phải tiến hành ngay đối thoại cởi mở
và tha thứ, thành thật với các lãnh tụ và đảng viên Maoist, không
nên đặt họ ra ngoài vòng pháp luật và tìm cách tiêu diệt họ bằng
bạo lực, việc làm này không thể giải quyết được chiến tranh.
Các lãnh tụ
và đảng viên đảng cộng sản Nepal theo chủ thuyết Mao Trạch Đông phải
can đảm từ bỏ vũ lực mà tham gia vào tiến trình bầu cử tự do dân
chủ như đảng Cộng sản Macxit Leninit Nepal (UML) và các đảng phái khác.
Tất cả quân đội Maoist phải được sát nhập vào quân đội chính phủ
Nepal dưới sự chỉ huy của chính phủ dân cử và quốc hội, người dân
thường không được quyền cầm và tích trữ vũ khí.
3.
Các đảng
phái chính trị và phe Maoist phải có một chỗ thường trực để gặp gỡ
nhau thường xuyên hàng tháng, nếu có thể hàng tuần, để tạo sự cảm
thông. Sự cảm thông càng nhiều thì hận thù càng giảm. Tôi đã đề
nghị Lumbini nơi Phật giáng trần là một điểm gặp gỡ lý tưởng. Nơi đây
là mảnh đất linh thiêng, tôi đã tận mắt thấy nhiều mầu nhiệm ở nơi
đây, nếu các lãnh đạo đảng phái họp mặt nơi này với sự thành tâm
và trí tuệ tôi tin hoà bình sẽ trở lại trên quê hương Nepal.
4.
Đối với nhà vua: Nepal theo chế độ quân chủ chuyên chế lâu đời, mới
khoảng trên 10 năm nay theo quân chủ lập hiến, vì vậy nếu nước này
tự nhiên không có vua thì sẽ rơi vào những trường hợp tương tự như
Iran, Iraq hay Afghanistan. Đề nghị nhà vua không dính vào việc chính trị,
trừ trường hợp Nepal bị đe doạ mất nước, nếu vua vẫn tìm cách nắm
quyền tuyệt đối như trước 1990 thì sẽ gây sự chia rẽ và bất mãn. Các
lãnh tụ hay đảng viên các đảng phái không nên gián tiếp hay trực
tiếp chỉ trích nhà vua, mà nên có sự tôn trọng tương kính. Nếu các
đảng phái vẫn tiếp tục chỉ trích gây hấn hoài với hoàng gia đến một
mức độ nào đó vua không chịu nổi, không nhịn được, vua có thể lập ra
một lực lượng khác để quấy phá chính phủ do dân bầu lên. Như vậy
chắc chắn sẽ xáo trộn thêm cho đất nước nepal. Điều hay nhất là nên
có sự tương kính, tha thứ và cùng thương yêu một cách chân thành.
5.
Những nước và những người từng ủng hộ cho cuộc chiến Nepal vừa qua,
kể từ nay xin hãy long trọng cam kết không hỗ trợ súng đạn nữa mà
chỉ viện trợ tài chánh, theo đường lối hòa bình để giúp đỡ dân nghèo
nâng cao đời sống kinh tế và giáo dục.
XII. Nepal có
thể trở thành một trong những nước giàu có trên thế giới
1.
Tiềm năng thánh địa:
Nepal là một nước
hiểm trở không có đường biển, mọi con đường vận chuyển phải đi qua
Ấn Độ và Trung Hoa vì vậy một số hàng hoá trở nên đắt hơn các nước
khác. Nhiều chuyên gia quốc tế đến Nepal có nhận xét rất bi quan là
với vị trí địa lý chính trị của mình, Nepal khó phát triển về nhiều
phương diện. Một số người khuyến khích Nepal nên đầu tư phát triển về
công nghệ cao, số khác lại khuyến khích đầu tư về nông nghiệp, sản
xuất lúa gạo xuất khẩu. Nhiều chương trình lý giải có vẻ khoa học và
hợp lý rất hấp dẫn cho Nepal, nhưng chỉ hay trên lý thuyết. Trên thực
tế, nếu không khéo đầu tư sai đường thì sẽ gây xáo trộn và thất
thoát tài nguyên thiên nhiên quốc gia. Theo tôi Nepal hiện nay dân số
chưa đến 30 triệu sống trên một diện tích đất không lớn lắm, phần
lớn đất nước Nepal đồi núi hiểm trở, nhưng may mắn thay Phật đã ban
cho dân tộc Nepal có một đất nước vô cùng đẹp với rặng Himalaya,
ngoài ra còn có Lumbini là nơi Phật giáng trần.
Trên thế giới ngày
nay có trên một tỷ người là Phật tử hoặc cảm tình với đạo Phật,
phần lớn trong số này ai cũng mong một lần đến chiêm bái Lumbini. Tôi
thường nói, nếu Việt Nam, Thái Lan hoặc Nhật Bổn hay một nước nào
đó trên trái đất này có một chỗ như Lumbini, thì đó không phải là
mỏ vàng mà là mỏ hột xoàn vô tận. Nếu chính phủ và dân chúng Nepal
tổ chức bảo vệ tốt môi sinh, đường xá thật tốt và các phương tiện
ăn ở tiện nghi, hằng năm sẽ thu hút hàng chục triệu người trên thế
giới về chiêm bái Lumbini. Khi đến đây mỗi người sài chừng 500 mỹ kim
thì hằng năm mang lại nguồn lợi vô cùng lớn cho quốc gia và dân
chúng Nepal. Hơn thêù nữa, đó còn là sự đóng góp của Nepal cho hoà
bình thế giới. Hàng chục triệu người đến chiêm bái và cảm nhận sự
linh thiêng mầu nhiệm nơi này làm thay đổi tâm hồn và suy nghĩ của họ
theo hướng thánh thiện và an lạc, họ sẽ làm nhiều việc phúc thiện
đóng góp sự an lạc và thánh thiện cho quốc gia họ sống và thế giới.
2. Đề nghị hội nghị
thế giới và đại học hoà bình:
Nếu chiến tranh Nepal
được giải quyết êm đẹp bằng ôn hoà bâùt bạo động, thì đây là một
tấm gương sáng, mở ra một kỷ nguyên mới đầy hy vọng cho nhân loại,
nhiều nước đang bị khủng hoảng chiến tranh sẽ đến học hỏi từ người
Nepal về triết lý nghệ thuật sống chung hoà bình.
Những hội nghị hoà
bình thế giới thay vì họp ở Geneve hay Paris hoặc New york thì sẽ về
họp ở Lumbini.
Sau khi Nepal có hoà
bình, chính phủ cũng nên có một trường Đại học Hoà bình để sinh viên
các nơi đến học hỏi về triết lý hoà bình Nepal.
3. Hệ thống ngân
hàng tối tân và năng động:
Đất nước Nepal rất
hiểm trở, nằm giữa hai nước khổng lồ Ấn Độ, Trung Hoa. Hai nước này
là những nước đông dân nhất trên thế giới, chiếm 1/3 dân số thế
giới. Theo sự nhận xét của tôi, trong vòng mười năm nữa Ấn Độ và
Trung Quốc sẽ là hai cường quốc mới trên thế giới về nhiều phương
diện trong đó có sức mạnh về tài chánh và kinh tế. Như vậy Nepal cần
thiết lập một hệ thống ngân hàng năng động và tối tân cùng tạo
nhiều tin tưởng cho dân chúng và khách hàng của hai nước lớn này.
Nếu hệ thống ngân hanøg Nepal được bảo mật tốt và cách làm việc
đáng tín cậy thì dân chúng Ấn Độ và Trung Hoa sẽ đem tiền gửi vào
Nepal. Nepal sẽ nhờ tiền gửi này đầu tư và phát triển mà không cần
phải vay mượn các nước khác.
4. Du lịch và
chiêm bái.
Nepal với
cảnh thiên nhiên xinh đẹp hùng vĩ của mình đã thu hút hàng triệu du
khách các nơi trên thế giới mỗi năm. Riêng ngành du lịch thôi, nếu
tổ chức đàng hoàng sẽ mang một nguồn lơi rất lớn cho Nepal. Ngoài ra
về khách hành hương như tôi đã đề cập, ngoài Thánh địa Phật giáo
Lumbini, Nepal còn có nhiều di tích quan trọng của Ấn giáo và các tôn
giáo khác để tín đồ từ các nước đến chiêm bái.
5. Thuỷ
điện:
Nepal là
nước có nguồn thuỷ năng dồi dào nhất nhì trên thế giới với nguồn
nước từ Himalaya chảy xuống, đây là điều kiện rất thuận lơi cho phát
triển thuỷ điện cung cấp cho quốc gia và có thể bán sang các nước
lân cận.
6. Nông
nghiệp:
Khai thác
tài nguyên đất đai sẳn có một cách thông minh và hợp lý để sản
xuất lúa gạo tự lực đảm bảo lương thực cho quốc gia và nếu có dư thì
xuất khẩu và tuyệt đối tránh phá huỷ môi trường tốt sẵn có của
Nepal.
Sau khi có
hòa bình thực sự, chính phủ phải có chính sách rõ rệt tập trung đầu
tư và phát triển đúng mức mấy ngành nêu trên thì Nepal sẽ vươn lên
một cách tuyệt vời mà không còn phải tuỳ thuộc phần lớn vào nguồn
viện trợ của các nước ngoài.
XIII. Bí mật
để thành công
Muốn thực
hiện thành công những việc trên phải có những chính sách đúng và
thực hành đúng:
1.Trong sạch
hóa guồng máy chính phủ và giải quyết bất công xã hội.
Chính phủ
phải nâng cao đời sống vật chất và tâm linh của tất cả mọi người
trong guồng máy nhà nước, đào luyện thường xuyên ý thức trách nhiệm
từng người trong các nơi làm việc, chặn đứng sự tham ô lợi dụng
quyền hành hà hiếp dân chúng, vì đây là đầu mối của sự bất công
gây xáo trộn trong xã hội. Nếu nguồn tài nguyên quốc gia giàu có bị
một số cá nhân lạm dụng làm của riêng, người dân nhìn vào sẽ bất
mãn và nổi loạn.
Đồng thời,
chính phủ phải cấp bách có những chính sách cải thiện, nâng cao đời
sống ngươi dân ở những khu vực núi rừng, xa xôi hẻo lánh, đời sống
của những tầng lớp lao động nghèo khổ để giảm bớt bất công xã hội.
2. Có chương
trình giáo dục và đào tạo đúng đắn.
Giáo dục
phải quân bình thể chất và tâm linh theo truyền thống Nepal. Nền giáo
dục nhiều nơi trên thế giới đã và đang rơi vào sự khủng hoảng vô
cùng lớn. Người ta thúc đẩy học sinh sinh viên học rất nhiều, lấy
được nhiều bằng cấp chừng nào hay chừng ấy, nhưng không để ý đến
chất lượng giáo dục mà chỉ chú trọng nhiều về hình thức bề ngoài,
về bằng cấp mà lơ là về đạo đức, về sự thật học. Sự giáo dục mất
quân bình như thế về lâu dài sẽ đưa đất nước tới bế tắc như các
nước khác đã và đang gặp phải. Nếu một người lãnh đạo trong các
ngành được đào tạo trong môi trường như vậy thì chắc chắn sẽ gây tai
hoạ cho đất nước Nepal về lâu về dài. Tôi đề nghị xây dựng một nền
giáo dục thật hài hoà cân bằng giữa kiến thức và đạo đức, nếu
thực hiện đựơc như thế thì xã hội đất nước mới thực sự ổn định lâu
dài.
Một đất
nước muốn phát triển không phải chỉ cần bằng cấp cao mà lại không
căn bản, không thật học mà còn phải phát triển hạ tầng cơ sở, văn
hoá giáo dục tốt đẹp theo truyền thống quốc gia dân tộc Nepal.
Nếu một đất
nước có hoà bình và giàu có mà truyền thống văn hoá đạo đức bị mai
một, bị làm biến dạng hoàn toàn, thì coi như là mất tất cả. Muốn
giết chết một dân tộc thì cứ tiêu huỷ truyền thống văn hoá tốt đẹp
xứ đó.
Lời kết
Tôi là người ngoại
quốc đến sống và làm việc tại đất nước này trên hơn thập niên qua,
tôi yêu quí đất nước này như quê hương của tôi, tôi đã khám phá
Nepal có rất nhiều điều hay và đẹp, những truyền thống đạo đức văn
hoá văn minh tuyệt vời. Tôi là đệ tử của Phật Thích Ca, một con
người sinh ra tại vườn Lumbini cách đây trên 2600 năm, người đã dạy
cho tôi có một cuộc sống hoà bình an lạc hòa hợp giữa vật chất và
thiên nhiên vũ trụ, cuộc sống không hận thù bạo động, đầy tình
thương hạnh phúc chan hoà và thân ái với muôn loài. Tôi vô cùng tri
ân sư phụ tôi là Thầy
Hoàng Nhơn, Ngài đã đưa tôi tới với đạo Phật. Tôi vô cùng tri ân
Đức Phật, tri ân đất nước Nepal đã sinh ra một một bậc Thầy, một con
người vô cùng nhân hậu đã dẫn dắt hàng tỷ chúng sanh khắp nơi trên
thế giới có cuộc sống hoà bình hạnh phúc, thoát được mọi khổ đau
trong cõi đời này và mai sau. Tôi tri ân dân tộc Nepal vẫn còn bảo
vệ giữ được di tích Lumbini , nơi Phật Thích Ca giáng trần. Tôi cũng vô
cùng tri ân đất nước và dân tộc Nepal đã tiếp đón và dành cho tôi
nhiều ưu ái đặc biệt trong những năm tháng làm việc và sống tại đất
nước này.
Trong dòng chảy lịch
sử của mỗi đất nước cũng như mỗi cá nhân, đôi khi không may mắn gặp
phải khủng hoảng tai nạn. Nepal chẳng may bị khủng hoảng chiến tranh,
khiến hàng chục ngàn người chết, hàng tỷ đôla tài sản tiêu tan,
ruộng đồng nhà cửa của hàng trăm ngàn người tan nát, gia đình ly tán,
nạn nhân đau khổ nhất vẫn là phụ nữ và trẻ em vô tội.
Tôi, Thầy Huyền Diệu,
chủ tịch và cũng là người sáng lập Việt Nam Phật Quốc tự Lumbini,
ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật giáng trần và cũng là chủ tịch
Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới Lumbini, tôi tha thiết kêu gọi tất cả
các phe lâm chiến hãy ngưng ngay tiếng súng, ngưng ngay mọi tư tưởng và
cử chỉ bạo động, cử chỉ hận thù dù dưới hình thức nào, mà hãy ngồi
lại với nhau cùng tìm ra giải pháp hợp lý đem lại hoà bình thật sự
cho Nepal. Dân tộc và đất nước Nepal và lịch sử sẽ ghi ân quí vị
đã giải quyết chiến tranh hiện tại bằng sự tha thứ, bằng sự cảm
thông, bằng sự nhân nhượng, bằng sự chân thật và tình thương theo
truyền thống lâu đời của dân tộc Nepal. Cũng như nhiều nơi
trên thế giới, cuộc chiến hiện tại sẽ không thể dập tắt được bằng
bạo lực, bằng hận thù và súng đạn. Hàng trăm triệu đệ tử Phật
cũng như người cảm tình với Đức Phật sống ở khắp năm châu trên thế
giới sẽ rất vui mừng khi thấy quí vị vẫn giữ được truyền thống tốt
đẹp, một triết lý và nghệ thuật sống hoà bình an lạc theo lời Phật
dạy: Không hận thù, không bạo động dù dưới hình thức nào.
Chìa khóa và bí mật cho hoà bình Nepal trong tầm tay quí vị, không cần
phải đi tìm hay nhập cảng từ đâu. Khi hoà bình thật sự trở lại trên
đất nước Nepal, nếu quí vị vẫn còn hy vọng và vẫn tin tưởng, tôi sẽ
là người sẳn sàng tiếp tay với quí vị để phát triển Nepal trở thành
một trong những nước giàu có nhất trên trái đất này vào thế kỷ thứ
21, một nước giàu có hạnh phúc đã có hòa bình không bằng vũ lực mà
bằng tình thương; một đất nước có hòa bình không bằng bạo động mà
bằng sự cảm thông tha thứ và thương yêu chân thành. Tôi mong mỏi
các phe lâm chiến sẽ nghe lời kêu gọi tha thiết chân thành của tôi
mà ngưng ngay tức khắc mọi hành động cử chỉ bằng súng đạn bằng hận
thù. Tôi kêu gọi tất cả quý vị hãy ngồi lại với nhau giải quyết
hòa bình bằng sự tha thứ và trong công bằng tự do dân chủ. Tôi rất
mong quí vị sẽ cùng nhau làm việc một cách chân thành để mở một trang
sử mới cho Nepal và cho tất cả mọi người. Tôi tin tưởng một cách
quyết liệt là mọi khó khăn khủng hoảng đều có thể giải quyết bằng
tình thương và bằng bất bạo động. Tôi cầu nguyện hòa bình sẽ sớm
đến với dân tộc và đất nước Nepal. Tôi chú nguyện và xin ban phước
lành cho tất cả quý vị và gia đình cùng mọi người Nepal được mọi sự
bình an.
Việt Nam Phật Quốc
Tự Lumbini
Ngày trăng tròn
tháng 3 năm Bính Tuất
Huyền
Diệu
|